A. TỔNG QUAN VỀ THOÁI HOÁ KHỚP
1. Thoái hóa khớp là gì?
Thoái hóa khớp là bệnh lí xương khớp phổ biến nhất trong cộng đồng. Thoái hóa khớp gối, thoái hoá khớp bàn tay hay thoái hóa khớp háng ảnh hưởng tới khoảng 20-30% dân số trưởng thành. Bệnh thường có triệu chứng ở tuổi 40 và 50 và gần như toàn bộ (mặc dù không phải lúc nào cũng có triệu chứng) ở tuổi 80. Chỉ có một nửa số bệnh nhân thoái hóa khớp có triệu chứng. Dưới 40 tuổi, hầu hết thoái hóa khớp xảy ra ở nam giới và là hậu quả sau chấn thương. Từ 40 đến 70 tuổi, thoái hóa khớp hay gặp ở phụ nữ, còn trên 70 tuổi, tỷ lệ thoái hóa khớp ở nam và nữ là như nhau.
2. Diễn biến của quá trình thoái hóa khớp
Yếu tố thường dẫn tới thoái hóa khớp nhất là sự lão hóa và tình trạng béo phì đang ngày càng gia tăng. Thoái hóa khớp gây tổn thương khớp và các thành phần xung quanh khớp. Xương dưới sụn bị cứng, sau đó bị nhồi máu, và phát triển nang dưới sụn. Các quá trình tự sửa chữa xương gây ra xơ xương dưới sụn và hình thành gai xương ở rìa khớp. Các gai xương phát triển dường như để ổn định khớp. Màng hoạt dịch bị viêm và dày lên và sản sinh ra nhiều dịch khớp với độ nhớt giảm. Các gân cạnh khớp và dây chằng bị chèn ép, dẫn đến viêm gân và co rút. Khi khớp ít vận động hơn, cơ xung quanh mỏng và giảm chức năng hỗ trợ. Sụn chêm nứt và có thể rách.
3. Triệu chứng
Thoái hoá khớp thường bắt đầu từ từ, thường bắt đầu với một hoặc vài khớp. Đau là triệu chứng sớm nhất của thoái hoá khớp, đôi khi được mô tả là đau sâu. Đau thường tăng lên ở những tư thế chịu trọng lực và giảm khi nghỉ ngơi nhưng cuối cùng có thể đau liên tục. Cứng khớp sau khi ngủ dậy hoặc không hoạt động nhưng kéo dài < 30 phút và giảm đi khi vận động. Khi thoái hoá khớp tiến triển, vận động khớp sẽ trở nên hạn chế, xuất hiện đau và cảm giác lục khục, lạo xạo. Sự tăng sinh của sụn, xương, dây chằng, gân, bao khớp, và màng hoạt dịch, cùng với tràn dịch khớp với các mức độ khác nhau, cuối cùng sẽ gây ra tình trạng sưng khớp trong thoái hoá khớp. Có thể xuất hiện co cứng ở tư thế gấp ở giai đoạn muộn. Viêm màng hoạt dịch cấp và nặng là không phổ biến.
Đau khi sờ và đau khi vận động thụ động là những dấu hiệu tương đối muộn. Co cứng cơ và co rút làm đau tăng. Chèn ép cơ học bởi dị vật nội khớp hoặc mảnh sụn chêm bất thường vị trí có thể gây kẹt khớp. Sự biến dạng và các lỏng lẻo khớp cũng có thể xuất hiện
4. Cận lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán bệnh
+ X-quang:Thoái hóa khớp nên được nghi ngờ ở bệnh nhân có khởi phát dần các triệu chứng cơ năng và thực thể, đặc biệt ở người lớn tuổi. Nếu nghi ngờ thoái hóa khớ, nên chụp XQ với các khớp có nhiều triệu chứng nhất. Các phim XQ thường cho thấy gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hình thành nang dưới sụn, tái tạo xương, và tràn dịch khớp. Chế độ chụp chịu trọng lượng Merchant (xem tiếp tuyến với khớp gối gấp 30 °) X-quang đầu gối nhạy hơn khi phát hiện khoảng trống khớp.
+ Xét nghiệm dịch khớp: giúp phân biệt với viêm khớp; trong thoái hóa, dịch thông thường trong, nhớt, và có ≤ 2000 bạch cầu /μL.+ MRI: MRI là xét nghiệm cận lâm sàng chẩn đoán các tổn thương mô mềm như gân, cơ, bao khớp, đồng thời giúp các bác sĩ mô tả chính xác kích thước, vị trí, phân loại tổn thương

B. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ THOÁI HÓA KHỚP
Phương pháp điều trị phù hợp được lựa chọn dựa trên triệu chứng của người bệnh, mức độ tổn thương của khớp và mong muốn điều trị của bệnh nhân. Hầu hết các bác sĩ sẽ ưu tiên chọn các phương pháp đơn giản, ít can thiệp như thay đổi lối sống, dinh dưỡng, điều trị bằng các thuốc. Tuy nhiên với một số bệnh nhân các phương pháp trên không đạt hiệu quả, bệnh diễn biến cấp tính gây đau đớn nhiều thì các phương pháp điều trị phẫu thuật là sự lựa chọn tốt nhất để kiểm soát tình trạng bệnh.
Có những phương pháp điều trị nào cho người bệnh thoái hóa khớp?
I. Các phương pháp thay đổi lối sống, không dùng thuốc
1. Tập thể dục
Luyện tập thể dục có thể đóng vai trò chính trọng dự phòng thoái hóa khớp, giúp làm giảm các triệu chứng và chậm lại quá trình thoái hóa. Một lối sống thường xuyên vận động giúp bạn duy trì tình trạng khỏe mạnh của các khớp, giảm cứng khớp, đau mỏi, tăng sức mạnh cơ bắp cùng độ chắc khỏe của xương, độ linh hoạt của cơ thể để tránh các chấn thương.
Ở các bệnh nhân thoái hóa nên áp dụng các bài tập nhẹ nhàng, không chỉ đơn thuần gồm các bài tập nhịp điệu, cần kết hợp các bài tập căng giãn, tăng sức mạnh để hỗ trợ cho khớp và giữ độ linh hoạt. Lưu ý dừng các bài tập khi các triệu chứng đau tăng lên, tiến triển ở khớp khác. Bệnh nhân được khuyến khích luyện tập dưới nước giúp giảm lực tỳ tại khớp, nếu nước ấm sẽ giúp tăng lưu thông máu. Bên cạnh đó cần có chế độ nghỉ ngơi khi các khớp đang bị sưng, đau.
2. Chế độ dinh dưỡng
Điều chỉnh cân nặng nếu đang trong tình trạng thừa cân, béo phì nhằm giảm tải trọng cho khớp, đặc biệt là khớp gối giúp giảm đau khớp. Một chế độ ăn tốt cho sức khỏe, bổ sung canxi, vitamin D, dầu cá, nhiều rau xanh giúp giảm viêm và làm chậm quá trình thoái hóa.
3. Chườm
Cả chườm nóng nóng và chườm lạnh đều có ích giúp giảm bớt các triệu chứng sưng, đau của khớp bị thoái hóa. Chườm lạnh 20’, ngày có thể áp dụng 3 lần sẽ giúp giảm sưng và đau. Cần chú ý sử dụng các túi chườm, tránh chườm đá trực tiếp có thể gây tổn thương da. Tương tự khi áp dụng chườm nóng bằng cái chai nước nóng hoặc túi chườm, giúp tăng tuần hoàn đến mô để sửa chữa tổn thương đồng thời giảm tình trạng cứng khớp.
II. Điều trị nội khoa
Thoái hóa khớp là bệnh chưa có thuốc đặc hiệu điều trị, do đó mục tiêu khi điều trị nội khoa cho bệnh nhân là giúp điều trị các triệu chứng, giảm viêm đau, hỗ trợ người bệnh để làm chậm quá trình thoái hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống người bệnh. Tuy nhiên, các loại thuốc khác nhau mang lại những hiệu quả khác nhau cùng những nguy cơ khi sử dụng thuốc. Người bệnh trước tiên nên bắt đầu với các thuốc với liều điều trị hiệu quả tối thiểu và ít tác dụng phụ.
1. Thuốc giảm đau mức độ vừa và nhẹ
a, Paracetamol
Đây là loại thuốc giảm đau thông thường quen thuộc, có tác dụng điều trị triệu chứng đau mức độ nhẹ đến vừa, tuy nhiên không có tác dụng giảm tình trạng viêm của khớp. Paracetamol tương đối an toàn khi sử dụng đúng liều. Tuy nhiên khi người bệnh sử dụng quá liều, quá thường xuyên sẽ có thể dẫn tới hủy hoại tế bào gan, đặc biệt tăng nguy cơ khi đồng thời lạm dụng rượu bia.
b, Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs):
NSAIDs có tác dụng điều trị nhiều triệu chứng như giảm viêm, giảm đau và cứng khớp. Các thuốc này đem lại hiệu quả trong điều trị thoái hóa khớp tốt hơn Paracetamol do đó được xem là phương án tiếp theo khi Paracetamol không có nhiều tác dụng. Cần đặc biệt thận trọng khi sử dụng thuốc NSAIDs kéo dài, có thể gặp tác dụng phụ như các vấn đề về dạ dày, bệnh lí tim mạch, độc cho gan thận, nguy cơ chảy máu. Do đó nguyên tắc khi sử dụng thuốc NSAIDs bao gồm:
+ Uống sau bữa ăn
+ Không chỉ định cho bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày-tá tràng, trường hợp cần thiết phải sử dụng thêm thuốc bảo vệ dạ dày.
+ Chỉ nên kéo dài 5-7 ngày, sau đó dùng liều thấp có tác dụng duy trì. Khi điều trị kéo dài cần được theo dõi định kì ở cơ sở y tế.
+ Không phối hợp các thuốc NSAIDs cùng nhóm với nhau vì làm tăng độc tính Có 2 dạng NSAIDs thường gặp đó là dạng uống và dạng bôi
Một số thuốc chống viêm không steroid thường gặp bao gồm:
+ Aspirin: Liều thấp có tác dụng giảm đau với các cơn đau nhẹ, ở liều cao có tác dụng chống viêm. Bên cạnh đó Aspirin còn ảnh hưởng tới quá trình thải trừ acid uric, sử dụng liều cao sẽ làm tăng thải trừ Uric, liều thấp sẽ giảm thải trừ uric làm nặng bệnh gút.
+ Ibuprofen, naproxen: ít tác dụng không mong muốn, nhất là trên đường tiêu hóa so với aspirin, có tác dụng giảm đau vừa và nhẹ, viêm khớp mãn tính
+ Indometacin: Có tác dụng chống viêm mạnh hơn Aspirin, thấm được vào dịch ổ khớp, dây thần kinh giúp giảm đau dây thần kinh
+ Piroxicam, Meloxicam: Thuốc có tác dụng giảm đau, chống viêm mạnh, thời gian tác dụng dài và rất dễ thấm vào tổ chức khớp bị viêm mà ít thấm vào thần kinh.
+ Diclofenac: có tác dụng chống viêm, giảm đau cấp và mạn với thời gian tác dụng dài. Thuốc có 2 dạng chế phẩm đường uống và bôi ngoài da, sử dụng chế phẩm bôi ngoài da giúp giảm các tác dụng phụ của thuốc
c, Thuốc ức chế COX-2
Có hiệu quả giảm đau, chống viêm tương tự NSAIDs, với ưu điểm tác dụng kéo dài nên chỉ cần uống 1 lần/ngày, dễ thấm vào các khớp viêm với nồng độ cao và giảm tác dụng phụ trên dạ dày nhờ cơ chế ức chế chọn lọc hơn. Tuy nhiên người bệnh chỉ nên sử dụng thuốc ức chế COX-2 với liều giảm đau tối thiểu bởi thuốc làm tăng nguy cơ tim mạch, tổn thương thận so với dòng NSAIDs.
2. Các thuốc giảm đau mức độ nặng
a, Corticoid dạng tiêm: Corticoid là một loại thuốc kháng viêm mạn, được sử dụng tiêm tại chỗ vào khớp thoái hóa. Thuốc có các đặc điểm như tác dụng nhanh chóng làm giảm viêm trong vòng 24-48h, tuy nhiên thuốc chỉ có tác dụng kéo dài trung bình khoảng 6 đến 12 tuần và triệu chứng thoái hóa lại trở lại. Bệnh nhân không nên lạm dụng corticoid thường xuyên vì có thể dẫn đến những biến chứng toàn thân và tại chỗ như loãng xương, mất sụn khớp, tăng đường huyết, suy giảm miễn dịch,…
b, Acid Hyaluronic:
Acid Hyaluronic là một polysaccharid có trong thành phần của dịch khớp bình thường có tác dụng bôi trơn mô mềm và phủ lên bề mặt sụn khớp giúp giảm xóc, bôi trơn, bảo vệ khớp. Khi bị thoái hóa, số lượng và chất lượng của acid này trong dịch khớp bị giảm còn một nửa đến hai phần ba, dẫn đến giảm độ nhớt và tiến triển hủy hoại khớp. Bổ sung acid Hyaluronic trong thoái hóa khớp dẫn đến tăng nồng độ acid này trong khớp, cải thiện chức năng khớp, giảm viêm, giảm đau khớp, ức chế thoái hóa sụn khớp nhờ tác dụng gián tiếp tăng sinh tổng hợp tế bào sụn. Tác dụng của thuốc rõ rệt trên bệnh nhân và có thể kéo dài hàng tháng. Tuy nhiên tiêm acid hyaluronic cũng có tác dụng phụ như làm giảm khả năng sinh acid hyaluronic tự nhiên, chảy dịch khớp,…
III. Điều trị bằng các phương pháp phẫu thuật
Các trường hợp tình trạng của bệnh nhân quá nặng, các phương pháp điều trị nội khoa không đem lại hiệu quả, đau nghiêm trọng, cứng khớp, biến dạng chi, mất chức năng của khớp, bệnh nhân có thể được yêu cầu phẫu thuật.
1. Thay khớp nhân tạo
Trong trường hợp người bệnh được chỉ định phẫu thuật, thay khớp nhân tạo là phương pháp tốt nhất để cải thiện các triệu chứng, hồi phục chức năng của khớp bị thoái hóa. Kĩ thuật này sẽ mổ thay khớp bị phá hủy bằng khớp nhân tạo làm từ chất liệu tổng hợp hoặc kim loại. Sự hồi phục thành công và thời gian sử dụng của khớp nhân tạo phụ thuộc vào nhu cầu vận động của khớp và tình trạng mô mềm xung quanh khớp theo thời gian. Hiện nay kĩ thuật này có thể áp dụng cho nhiều loại khớp, bao gồm khớp vai, khớp khuỷu, khớp háng, khớp gối,…
2. Tạo hình lại xương (Bone realignment)
Phẫu thuật thực hiện loại bỏ những phần xương bị phá hủy để tái cấu trúc lại xương, giúp giảm áp lực lên phần xương đã bị phá hủy bởi quá trình thoái hóa. Tạo hình lại xươngthường chỉ áp dụng cho các bệnh nhân thoái hóa trẻ tuổi, không thể thay khớp nhân tạo.
3. Phẫu thuật đóng cứng khớp
Mục đích của phẫu thuật này làm cứng vĩnh viễn các khớp nhằm tăng độ vững của khớp và giảm đau cho các bệnh nhân bị thoái hóa khớp nghiêm trọng. Tuy nhiên sau phẫu thuật đóng cứng khớp có thể cải thiện tình trạng đau nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến vận động của chi.
4. Phẫu thuật nội soi
Nội soi khớp là một phẫu thuật xâm nhập tối thiểu dùng để chẩn đoán và điều trị thoái hóa khớp, sửa chữa các tổ chức viêm nhiễm cũng như loại bỏ phần sụn khớp bị phá hủy giúp cải thiện tình trạng của khớp thoái hóa. Ưu điểm của phương pháp dó là đảm bảo tính thẩm mỹ với đường vào nhỏ hơn 1cm, ít biến chứng nhiễm trùng, phục hồi vận động sớm, chẩn đoán và điều trị chính xác và hiệu quả.
Để được chẩn đoán và điều trị phù hợp, bệnh nhân thoái hóa khớp nên tới phòng khám của bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn và điều trị, tránh để xảy ra những biến chứng nặng nề do hậu quả của bệnh và hậu quả từ sai lầm trong quá trình tự điều trị.
Ths.Bs Trần Quyết – Trung tâm Chấn thương chỉnh hình và Y học thể thao bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec Timescity Hà nội. Sđt 0964502886.

