I. GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG
Vùng khuỷu tay là tất cả phần mềm bọc xung quanh khớp khuỷu, được giới hạn ở trên và dưới nếp gấp khuỷu 3cm. Khớp khuỷu được tạo bởi sự tiếp khớp giữa 3 xương: Xương cánh tay, xương quay và xương trụ thành tổ hợp 3 khớp gồm khớp cánh tay-quay, khớp cánh tay-trụ và khớp quay trụ trên. Phần xương lồi ra của khuỷu tay là các mỏm trên lồi cầu xương cánh tay, đây là các điểm bám của các cơ gấp và duỗi khuỷu. Quanh khớp khuỷu là các tổ chức cân cơ, thần kinh, mạch máu, các dây chằng và bao khớp giúp đảm bảo tính vững chắc và chức năng của khớp khuỷu. Khớp khuỷu có chức năng trợ giúp tính vận động của bàn tay trong không gian bằng các động tác gấp, duỗi khuỷu; sấp, ngửa bàn tay.
Bất kì sự bất thường nào của các thành phần bên trong hoặc xung quanh khớp khuỷu đều có thể là nguyên nhân gây đau vùng khuỷu tay của bạn.

II. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY ĐAU KHỚP KHUỶU THƯỜNG GẶP
1. Gãy xương vùng khuỷu:
Gãy xương có thể xảy ra với xương cánh tay, xương quay hay xương trụ. Cơ chế chấn thương thường gặp nhất là ngã trong tư thế duỗi cẳng tay. Bệnh nhân sẽ thấy đau nhiều, sưng và bầm tím tại ổ gãy, khám thực thể cẳng tay bị biến dạng, hạn chế vận động. Điều trị gãy xương phụ thuộc vào mức độ tổn thương và thời gian đến với bác sĩ. Nếu bệnh nhân không được điều trị thích hợp sẽ có nguy cơ gặp các biến chứng như can lệch, không liền, dính khớp khuỷu làm mất cơ năng của chi tổn thương.
2. Trật khớp khuỷu
Trật khớp khuỷu cũng rất hay gặp do chấn thương, phổ biến nhất là trong các chấn thương thể thao do chống tay có lực xoắn vặn. Số khác hay gặp trong các môn đối kháng có lực tác động trực tiếp đến khuỷu. Chấn thương do tai nạn giao thông ít gặp hơn, khi có trật khuỷu thường kèm theo tổn thương gãy xương hoặc trật khớp khác phối hợp. Điều trị cần đến gặp bác sĩ sớm để nắn chỉnh khớp về vị trí giải phẫu và đeo nẹp hoặc bột cố định khoảng 3-4 tuần cho hồi phục dây chằng bao khớp xung quanh.
3. Viêm bao hoạt dịch khuỷu tay
Bao hoạt dịch khuỷu tay nằm ở mặt sau khuỷu tay, có tác dụng giúp da trượt dễ dàng trên mỏm khuỷu khi vận động. Những chèn ép liên tục khi dựa cả cơ thể vào khuỷu tay, như làm việc liên tục trong thời gian dài ở bàn soạn thảo, có thể khiến sưng tấy và viêm bao hoạt dịch khuỷu tay. Bệnh nhân thường sưng và đau khi chuyển động khuỷu tay, đặc biệt đau khi duỗi. Điều trị thông thường là nghỉ ngơi, giảm đau, chống viêm và tránh những chấn thương nặng hơn. Hầu hết sẽ khỏi sau vài tuần tuy nhiên cũng có nguy cơ trở thành viêm bao hoạt dịch mạn tính.
4. Golfer’s elbow (Viêm điểm bám gân lồi cầu trong xương cánh tay)
Mỏm lồi cầu trong xương cánh tay là điểm bám gân của các cơ vùng cẳng tay. Golfer’s elbow thường gặp ở người chơi golf hay nhân viên văn phòng, người phải ngồi sử dụng máy tính làm việc thường xuyên. Tổn thương xuất hiện do các vi chấn thương lặp đi lặp lại lên các gân gấp của cẳng tay. Golfer’s elbow thường đau khu trú vùng mỏm lồi cầu trong xương cánh tay, đau tăng lên khi co, gấp chủ động cổ tay. Thăm khám lâm sàng thấy có nhạy cảm đau dọc các gân cơ gấp ở ngay dưới mỏm lồi cầu trong xương cánh tay, tầm vận động thường không bị ảnh hưởng nhưng sức cầm nắm lại giảm, dương tính khi làm nghiệm pháp khuỷu tay golfer (giữ chặt cẳng tay, bệnh nhân gấp cổ tay chủ động trong khi bác sĩ cố gắng duỗi cổ tay bệnh nhân).
Điều trị Golfer’s elbow bằng cách nghỉ ngơi, tạm ngưng các hoạt động thể thao; chườm lạnh, giảm đau và đến cơ sở khám chữa bệnh để được đánh giá và điều trị phù hợp, tránh dẫn tới biến chứng đứt gân, nhiễm trùng, hạn chế vận động khuỷu tay, đeo đai hỗ trợ khuỷu tay. Không nên thực hiện xoa bóp với dầu nóng hay thuốc gia truyền vì có thể khiến tình trạng trở nên trầm trọng hơn. Nếu đến muộn có thể cần can thiệp ngoại khoa.
5. Tennis elbow (Viêm điểm bám gân lồi cầu ngoài xương cánh tay)
Bệnh thường gặp ở những người chơi các môn tennis, bóng bàn hay thợ mộc, họa sĩ, người bán thịt hay nhân viên văn phòng sử dụng chuột máy tính liên tục. Cơ chế tổn thương do tình trạng vi chấn thương và co thắt lặp đi lặp lại của của các cơ vùng cẳng tay khiến gân các cơ duỗi cổ tay của bệnh nhân bị tổn thương, dẫn tới tình trạng viêm tại lồi cầu ngoài xương cánh tay nơi các gân cơ này bám.
Bệnh có triệu chứng đau là phổ biến, vị trí tại mặt ngoài khuỷu tay, đau tăng lên khi làm các động tác xoay cẳng tay, gấp duỗi ngón tay hay nắm chặt tay. Bên tổn thương giảm cơ lực và sức cầm nắm. Bác sĩ khám bằng cách một tay ấn ngón cái vào lồi cầu ngoài xương cánh tay. Giữ khuỷu tay của bệnh nhân tư thế gấp 90 độ và sấp cẳng tay. Tay còn lại nắm bàn tay bệnh nhân. Bệnh nhân đau chói vùng lồi cầu ngoài khi duỗi cổ tay có đối lực bởi Bác sĩ (test Cozens).
Điều trị nội khoa vẫn là phương pháp ưu tiên hàng đầu và tỉ lệ khỏi lên đến 80-95%. Điều trị phẫu thuật chỉ đặt ra khi không đáp ứng với điều trị nội khoa sau 6 đến 12 tháng, mục đích nhằm loại bỏ tổ chức xơ, tổ chức hoạt tử và tăng tưới máu tới vị trí điểm bám gân.
6. Thoái hóa khớp khuỷu
Đây là căn bệnh thường gặp phải ở người lớn tuổi, khoảng từ ngoài 40 tuổi. Quá trình thoái hóa xảy ra hiện tượng nứt vỡ, bào mòn sụn khớp cùng hình thành gai xương bất thường. Triệu chứng bao gồm đau khuỷu tay xuất hiện dần dần, tăng hoặc khởi phát sau vận động, cứng khớp kéo dài < 30 phút vào buổi sáng. Bệnh do có tiền sử chấn thương khuỷu, hoặc do quá trình lão hóa tự nhiên hay tính chất công việc cần vận động khớp khuỷu quá mức. Chẩn đoán thoái hóa khớp khuỷu dựa vào hỏi về bệnh sử, thăm khám, đánh giá các yếu tố nguy cơ kết hợp với chẩn đoán hình ảnh như Xquang. Điều trị bao gồm các biện pháp vật lý phục hồi chức năng, giáo dục bệnh nhân, dùng thuốc và phẫu thuật.
7. Viêm xương-sụn bóc tách (Osteochondritis dissecans)
Viêm xương-sụn bóc tách là tình trạng mô sụn đầu khớp và mô xương nằm dưới sụn bị tách một phần hoặc tay rời nhau do không được cấp đủ máu. Bệnh xảy ra nhiều nhất ở những người chơi thể thao thường xuyên, đặc biệt là những người trẻ (từ 10-20 tuổi) và trung niên (30-50 tuổi). Dấu hiệu bao gồm đau, đặc biệt sau khi vận động, khớp có thể phát âm thanh răng rắc hoặc kẹt khớp nếu có mảnh vỡ bị kẹt vào khi cử động, yếu khớp và hạn chế tầm vận động khớp khuỷu.
Điều trị viêm xương-sụn bóc tách nhằm mục đích phục hồi chức năng khớp, giảm đau và giảm nguy cơ dẫn đến thoái hóa khớp. Ở trẻ em, đối tượng mà xương còn phát triển, tổn thương có thể tự liền sau một thời gian nghỉ ngơi hợp lí. Phương pháp phẫu thuật được chỉ định cho các trường hợp điều trị bảo tồn 4-6 tháng không hiệu quả, triệu chứng đau, sưng quá mức, hay trường hợp có mảnh vỡ kẹt tại khớp.
8. Viêm khớp dạng thấp
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh lí bất thường tự miễn gây ra tổn thương viêm mạn tính ảnh hưởng toàn thân. Khác với thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp gây viêm màng hoạt dịch, sưng đau và cuối cùng dẫn đến xói mòn xương và biến dạng khớp. Triệu chứng nổi bật gồm đau sưng khớp có tính chất đối xứng, lan tỏa, liên tục; tình trạng cứng khớp buổi sáng thường kéo dài trên 1 giờ, teo cơ, cứng khớp, biến dạng khớp và mất chức năng vận động của khuỷu. Chẩn đoán bệnh dựa vào tiêu chuẩn của Hội thấp khớp học Hoa Kì ACR 1987.
Mục đích điều trị Viêm khớp dạng thấp nhằm kiểm soát quá trình viêm khớp, phòng ngừa phá hủy khớp, bảo vệ chức năng khớp và giảm thiểu tối đa các triệu chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống. Các phương pháp điều trị bao gồm sử dụng thuốc, vật lí trị liệu phục hồi chức năng, quản lí giáo dục bệnh nhân. Khi bệnh nhân bị biến chứng nặng nề như biến dạng khớp, mất chức năng vận động có thể cần cân nhắc áp dụng điều trị ngoại khoa như thay khớp khuỷu nhân tạo nhằm phục hồi chức năng của cánh tay.
9. Hội chứng chèn ép thần kinh trụ
Tại khuỷu, thần kinh trụ chạy ngang qua một “đường hầm” nằm dưới mỏm trên lồi cầu trong cánh tay, đây là vị trí nằm rất nông, ít mô bảo vệ nên khi va chạm vào đó sẽ gây ra cảm giác như điện giật. Một số nguyên nhân gây chèn ép thần kinh trụ ở khuỷu tay thường gặp do tăng áp lực lên thần kinh trụ ở vị trí này như thường xuyên nằm lên tay trong tư thế gấp, tụ dịch khuỷu tay gây chèn ép hay sau một chấn thương vùng khuỷu. Hầu hết triệu chứng xảy ra ở bàn tay như dấu hiệu tê bì ở ngón út và ngón nhẫn, yếu cơ và khó thực hiện các động tác đòi hỏi khéo léo. Nếu nặng hoặc trong thời gian dài có thể dẫn tới teo cơ bàn tay, khó hồi phục
Điều trị hội chứng đường hầm xương trụ bao gồm nẹp cố định vào ban đêm, với khuỷu tay mở rộng ở 45°, và sử dụng đai đỡ khuỷu tay trong ngày. Phẫu thuật giải ép có thể được chỉ định nếu điều trị bảo tồn thất bại.
III. Chẩn đoán bệnh đau khớp khuỷu tay
Ngoài việc dựa vào các triệu chứng lâm sàng, để chẩn đoán bệnh đau khớp khuỷu tay bác sĩ sẽ tiến hành thăm khám và làm một số xét nghiệm.
- Chụp X-quang: đây là phương pháp kiểm tra xem có các tổn thương về xương, gãy xương hay viêm khớp hay không.
- Cộng hưởng từ: hình ảnh chụp cộng hưởng từ khớp khuỷu tay sẽ cho biết chi tiết các mô mềm xung quanh khớp như sụn khớp, dây chằng, mao mạch và dây thần kinh.
- Điện thần kinh cơ: đây là phương pháp đo mức độ phản ứng của các cơ khi có dòng điện kích thích chạy qua.
IV. Điều trị bệnh đau khớp khuỷu tay
Tùy theo tình trạng bệnh cụ thể và từng bệnh nhân mà bác sĩ sẽ đưa ra phương pháp điều trị thích hợp. Các phương pháp điều trị thông thường gồm:
– Điều trị tại nhà: với những trường hợp mới bị bệnh, mức độ tổn thương không nhiều có thể tự điều trị tại nhà bằng các biện pháp sau đây:
– Nghỉ ngơi: cần để cho khớp khuỷu tay nghỉ ngơi càng nhiều càng tốt giúp giảm đau, giảm sưng. Cần dừng các hoạt động gây đau trong 1 – 2 tuần hoặc có thể lâu hơn tùy thuộc vào tình trạng tổn thương. Sau đó có thể vận động trở lại bình thường.
– Chườm lạnh: chườm lạnh giúp giảm sưng, giảm đau và ngăn ngừa tổn thương mô. Cách làm: sử dụng một túi nước đá hoặc để đá trong chai nhựa chườm lên khuỷu tay trong vòng 15 – 20 phút, mỗi ngày làm 3 – 4 lần.
– Dùng nẹp hoặc băng khuỷu tay: sử dụng băng đàn hồi quấn quanh khuỷu tay để giữ ấm và giúp chuyển động khớp không bị vượt quá giới hạn. Sử dụng nẹp giúp giảm áp lực lên cánh tay khi thực hiện một số hoạt động nhất định.
– Kê cao khuỷu tay: việc nâng khuỷu tay ngang mức sẽ giúp giảm sưng và đau. Có thể chống khuỷu tay trên gối hoặc chân để việc nâng lên dễ dàng và thoải mái hơn.
– Sử dụng thuốc: việc sử dụng thuốc giúp làm giảm đau và kiểm soát các triệu chứng khác. Việc lựa chọn thuốc tùy vào mức độ của từng bệnh nhân.
– Thuốc giảm đau, chống viêm không steroid.
– Thuốc giãn cơ.
– Corticosteroid.
– Các biện pháp vật lý trị liệu: các phương pháp vật lý trị liệu cũng giúp làm giảm đau khớp khuỷu tay và các triệu chứng khác. Phương pháp này sẽ tốn nhiều thời gian hơn để có hiệu quả nhưng tác dụng sẽ kéo dài hơn, ít phát sinh rủi ro hơn so với việc sử dụng thuốc tây. Các phương pháp vật lý trị liệu có thể sử dụng như là:
– Kích thích dòng điện qua da.
– Siêu âm trị liệu
– Nhiệt trị liệu
– Phẫu thuật: chỉ được chỉ định khi các triệu chứng không được cải thiện khi điều trị bằng các phương pháp trên. Có thể phẫu thuật nội soi hoặc phẫu thuật mở để loại bỏ mô chết gây áp lực lên vùng khuỷu tay. Bên cạnh đó, đối với những trường hợp tổn thương nghiêm trọng, khuỷu tay bị tổn thương nặng, mất khả năng hồi phục, phẫu thuật nội soi hoặc mổ mở thất bại, cần tính đến phương án thay khớp khuỷu nhân tạo để phục hồi chức năng của cánh tay giúp bệnh nhân trở lại sinh hoạt.
V. Làm sao để phòng tránh chấn thương khuỷu tay?
Ngoài các bệnh tiến triển mãn tính như thoái hoá khớp khuỷu thì hầu hết các chấn thương tại khuỷu là hậu quả của một chấn thương hoặc vận động quá mức. Chúng ta có thể phòng tránh bằng cách:
– Khi chơi các môn thể thao, lựa chọn dụng cụ phù hợp như tay cầm, độ căng mặt vợt…
– Thực hiện các bài khởi động trước khi chơi thể thao hoặc lao động.
– Có chế độ nghỉ ngơi thích hợp khi vận động thể lực cường độ cao.
– Luyện tập các tư thế đúng khi tập luyện, nâng vật nặng.
– Sử dụng dụng cụ bảo hộ như đai hỗ trợ/bảo vệ khuỷu tay.
– Xây dụng chế độ dinh dưỡng cân bằng và đa dạng .
– Thay đổi tư thế ngủ thoải mái.
– Tập các bài tập đơn giản giúp kéo căng và tăng cường cơ bắp và gân cơ.
Ths.Bs Trần Quyết – Trung tâm Chấn thương chỉnh hình và Y học thể thao, bệnh viện đa khoa Quốc Tế Vinmec Timescity – Hà nội. Sđt 0964502886.-

