Tổn thương dây chằng cổ tay trong gãy đầu dưới xương quay
nội-soi-cổ-tay
nội-soi-cổ-tay

Tổn thương dây chằng cổ tay trong gãy đầu dưới xương quay

Tóm tắt

Tổn thương của dây chằng thuyền nguyệt – Scapholunate (SL) và dây chằng Nguyệt tháp- lunotriquetral (LT) chiếm 1/3 trường hợp gãy đầu dưới xương quay. Trong đó tổn thương dây chằng thuyền nguyệt ( SL ) là hay gặp nhất.

1. Tổng quan về tổn thương dây chằng cổ tay trong gãy đầu dưới xương quay

Tổn thương của dây chằng thuyền nguyệt – Scapholunate (SL) và dây chằng Nguyệt tháp- lunotriquetral (LT) chiếm 1/3 trường hợp gãy đầu dưới xương quay. Trong đó tổn thương dây chằng thuyền nguyệt ( SL ) là hay gặp nhất. Trong bài này sẽ cung cấp cho bạn đọc những cái nhìn cơ bản nhất về tổn thương dây chằng cổ tay ( SL ). Dây chằng thuyền nguyệt là thành phần quan trọng tạo nên độ vững của cổ tay gồm 3 thành phần: phần dây dây chằng mặt gan cổ tay, mỏng và nhỏ hơn( volar ), phần màng trung gian ( membranous) và phần dây chằng mặt lưng cổ tay ( dorsal ) là thành phần chính dày chắc hơn và có chức năng quan trọng nhất của dây chằng thuyền nguyệt, khi có tổn thương SL các tác giả cũng chú trong hồi phục dây chằng mặt lưng hơn.
Tổn thương dây chằng cổ tay có thể xảy ra khi gãy đầu dưới xương quay đặc biệt hay gặp khi gãy mỏm châm quay hay còn gọi là gãy xương chauffeur . Gãy đầu dưới xương quay kèm trật khớp cổ tay quay và khớp cổ tay trụ thường có tổn thương dây chằng cổ tay kèm theo. Tuy nhiên, đôi khi gãy xương đơn thuần không kèm theo trật khớp cũng có tổn thương dây chằng nên việc Chẩn đoán tổn thương dây chằng là khó khăn vì xquang chỉ giúp chẩn đoán tổn thương xương và trật khớp. Cần kết hợp các phương tiện chẩn đoán khác như MRI hoặc Nội soi cổ tay. Trong đó nhiều tác giả cho rằng nội soi cổ tay có thể kiểm tra và chẩn đoán chính xác nhất những tổn thương phần mềm cổ tay trong gẫy đầu dưới xương quay. Tuy nhiên Y văn thế giới cũng không đề cập sâu về dạng tổn thương này trong gãy đầu dưới xương quay, vai trò của các thăm khám lâm sàng và điều trị cũng chưa nhất quán.

Tổn thương dây chằng cổ tay( SL ) theo phân loại của Andersson-Garcia-Elias

2. Chẩn đoán tổn thương dây chằng cổ tay như thế nào

Chấn thương dây chằng cổ tay thường xảy ra do cơ chế chấn thương trực tiếp (đập vào cổ tay) hoặc hoặc gián tiếp (ngã chống tay). Có rất nhiều nghiên cứu về tổn thương dây chằng cổ tay do gãy đầu dưới xương quay, nhưng để chẩn đoán có tổn thương dây chằng cổ tay không hề dễ dàng. Cần kết hợp lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh.
Lâm sàng : đặc trưng của gãy đầu dưới xương quay với sung đau cổ tay, hạn chế vận động cổ tay, ấn đau chói cổ tay…
Test Watson để kiểm tra tổn thương dây chằng cổ tay : Người khám giữ cổ tay bệnh nhân trong đó một tay để ngón cái ấn vào vị trí mặt nổi lên của gan cổ tay tương ứng vị trí xương thuyền trong khi 1 tay giữ các ngón tay khác ở mặt xa các ngón tay. Test dương tính khi vị trí ngón cái ấn vào sẽ thấy xương thuyền mất vững và không ổn định hay nói cách khác là có sự di động của xương thuyền kèm theo đau mặt sau của cổ tay. Test mang tính chất định hướng và phải kết hợp với các chẩn đoán hình ảnh khác để khẳng định chẩn đoán vì trong 1 số trường hợp test này cũng dương tính như khi có viêm bao hoạt dịch cổ tay.

Tổn thương dây chằng cổ tay trên Xquang và cộng hưởng từ

3. Các phương tiện cận lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán

Xquang : Khi gãy đầu dưới xương quay kèm trật khớp cổ tay, sự biến dạng của cổ tay trên phim xquang là rõ ràng. Trong trường hợp gãy xương kèm theo trật khớp dây chằng SL và dây chằng LT tổn thương dẫn tới di lệch của xương thuyền và xương tháp so với xương nguyệt. Kèm theo góc thuyền nguyệt > 60 độ, và khoảng cách xương thuyền và xương nguyệt > 3mm ( Bình thường <= 2mm ). trong trường hợp trật khớp cổ tay quay, xương nguyệt bị di lệch do dây chằng bị tổn thương.
Tuy nhiên, nhiều trường hợp tổn thương SL mà không có biến dạng trên xquang. Một số tác giả cho rằng đo khoảng cách thuyền nguyệt trên phim Xquang là tương đối khó đo đạc và không chính xác, các tác giả cho rằng Xquang giúp chẩn đoán tổn thương xương và có thể chẩn đoán trật khớp thuyền nguyệt, còn tổn thương dây chằng thì Xquang không phải là tiêu chuẩn.
Các phương tiện khác giúp định hướng chẩn đoán tổn thương dây chằng cổ tay rất giá trị như MRI cổ tay có thể đánh giá tốt tổn thương phần mềm cổ tay, đặc biệt là MRI có tiêm thuốc đối quang từ.
C arm cũng là 1 phượng tiện giúp chẩn đoán và điều trị các tổn thương gãy đầu dưới xương quay có kèm tổn thương dây chằng, chụp C arm chẩn đoán trong mổ và nắn kết hợp xương kín rất tốt mà không tốn kém.
CT cản quang có giá trị cao trong chẩn đoán tổn thương dây chằng cổ tay, tuy nhiên việc phải tiêm thuốc cản quang vào khớp cổ tay dễ làm bệnh nhân sưng đau và không thể chịu đựng được.
Nội soi khớp cổ tay là 1 phương pháp rất hữu ích và hiện đại để chẩn đoán và điều trị tổn thương phần mềm trong gãy đầu dưới xương quay.

Nội soi cổ tay điều trị tổn thương dây chằng

4. Điều trị các trường hợp gãy đầu dưới xương quay có kèm tổn thương dây chằng cổ tay như thế nào

  • Điều trị bảo tồn với bệnh nhân cao tuổi nhu cầu vận động thấp hoặc những trường hợp lâm sàng tổn thương mức độ nhẹ. Bao gồm cố định cổ tay kết hợp với vật lý trị liệu và tập luyện thần kinh cơ theo giai đoạn cũng cho kết quả khả quan.
  • Có rất nhiều kỹ thuật phẫu thuật điều trị gãy đầu dưới xương quay có tổn thương dây chằng nhưng chung quy có 2 phương pháp hay áp dụng. Đó là mổ mở cố định xương kết hợp khâu nối dây chằng trong trường hợp tổn thương sớm (cấp tính), hoặc tái tạo dây chằng trong trường hợp tổn thương mãn tính và phương pháp mổ kín găm đinh qua da cố định xương gãy kết hợp kiểm soát phần mềm qua nội soi cổ tay cũng cho kết quả khả quan. trong đó đa phần các tác giả cho rằng phẫu thuật mở cố định xương gãy và can thiệp tổn thương dây chằng vẫn là lựa chọn tốt hơn.
  • Đối với người trẻ có nhu cầu vận động khớp cao cần có chiến lược điều trị đúng đắn ngay từ đầu. Nhiều tác giả cho rằng khi có tổn thương dây chằng cổ tay mức độ nặng ở người trẻ tuổi thì nên phẫu thuật sớm trong vòng 4 đến 6 tuần đầu sau chấn thương để tránh trở thành mãn tính vì sau thời gian này dây chằng đứt thường bị co rút và thoái hóa khiến việc điều trị trở nên khó khăn. Phẫu thuật có thể bao gồm mổ mở cố định ổ gãy xương quay kết hợp khâu dây chằng bị đứt hoặc mổ kín ghim đinh. Trong đó mổ mở vẫn được các tác giả khuyến khích hơn với đường mổ mặt lưng cổ tay dễ bộc lộ và tìm để phục hồi dây chằng hơn. Các tác giả hay dùng gân gấp cổ tay quay hoặc gân gan tay dài là phương tiện tái tạo dây chằng trong các trường hợp dây chằng cổ tay bị co rút và thoái hóa không thể khâu nối.
  • Các nghiên cứu chỉ ra rằng mổ mở cố định xương gãy và tái tạo dây chằng có thể giảm đau tới 70%, cải thiện sức cầm nắm 85% và làm chậm diến tiến của quá trình thoái hóa khớp cổ tay.

5. Kết luận

Chẩn đoán tổn thương dây chằng cổ tay còn nhiều khó khăn và ngay cả khi trên MRI không rõ tổn thương thì cũng không chắc chắn loại trừ tổn thương dây chằng cổ tay, Trong đó các tác giả cho rằng nội soi khớp cổ tay, vẫn là kỹ thuật chẩn đoán được ưa thích và có giá trị chẩn đoán cao khi nói đến chấn thương dây chằng cổ tay.
Chẩn đoán sớm là rất cần thiết để đưa ra chỉ định điều trị có hiệu quả. Tuy nhiên vấn đề đưa ra phương pháp điều trị tổn thương dây chằng hiệu quả nhất vẫn còn rất nhiều thách thức và còn thảo luận nhiều.

Ths.Bs. Trần Quyết – khoa Chấn Thương Chỉnh Hình bv đa khoa Xanh Pôn Hà Nội.

Liên hệ để được tư vấn về bệnh lý cơ xương khớp.