Cứng khớp khuỷu điều trị như thế nào?
Tầm vận động khớp khuỷu
Tầm vận động khớp khuỷu

Cứng khớp khuỷu điều trị như thế nào?

Tóm tắt

Cứng khớp khuỷu là tình trạng giảm tầm vận động ở tư thế duỗi ( lớn hơn 30 độ) và/ hoặc gấp (ít hơn 120 độ ) của khuỷu tay. Tình trạng cứng khớp khuỷu thường đi kèm với việc hạn chế sấp ngửa cẳng tay.

  1. Thế nào là cứng khớp khuỷu?

Cứng khớp khuỷu rất hay gặp sau các chấn thương vùng khuỷu hoặc sát khớp khuỷu. Tỷ lệ thực của cứng khuỷu sau chấn thương chưa được thống kê chính xác nhưng nó dường như khá phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 5% các trường hợp. Mohan đã nghiên cứu tổng kết 200 trường hợp bị cứng khớp sau chấn thương và cho thấy rằng 20% có liên quan đến gãy trên lồi cầu, liên lồi cầu, gãy lồi cầu, 20% liên quan đến trật khớp khuỷu tay và 38% liên quan đến gãy xương trật khớp khuỷu và 10% liên quan đến gãy chỏm xương quay.

Hình minh hoạ tầm vận động bình thường của khớp khuỷu

Cứng khớp khuỷu là tình trạng giảm tầm vận động ở tư thế duỗi ( lớn hơn 30 độ) và/ hoặc gấp (ít hơn 120 độ ) của khuỷu tay. Tình trạng cứng khớp khuỷu thường đi kèm với việc hạn chế sấp ngửa cẳng tay.

Theo một nghiên cứu của Morrey thì khoảng 90% các hoặc động này có thể được thực tốt trong tầm vận động của khuỷu từ duỗi 30 độ đến gấp 130 độ . Vì vậy khi tình trạng cứng khuỷu sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng của chi trên, việc giảm 50% tầm vận động của khuỷu có thể làm giảm gần 80% chức năng của tay.

2. Nguyên nhân và phân loại của cứng khớp khuỷu

Có hai hệ thống phân loại cứng khuỷu tay chính là của tác giả Kay và Morrey. Trong khi phân loại Kay, dựa trên cấu trúc gây cản trở chuyển động khuỷu tay, thì phân loại Morrey, dựa trên nguyên nhân và vị trí giải phẫu của nó. Hệ thống phân loại của Kay gồm năm phần, bao gồm co rút mô mềm (loại I), co rút mô mềm với cốt hoá xương (loại II), gãy xương không di lệch bề mặt khớp với co rút mô mềm (loại III), gãy xương di lệch khớp với co rút mô mềm ( IV) và cứng khuỷu sau gãy xương nhiều mảnh (loại V).

Hệ thống phân loại cứng khuỷu của Morrey gồm ba phần: bên ngoài, bên trong hoặc hỗn hợp.

Hình minh hoạ cứng khớp khuỷu do nguyên nhân bên ngoài

Cứng khớp bên ngoài là do các nguyên nhân ngoài khớp, bao gồm cả bao khớp, dây chằng,co rút cơ cũng như cốt hoá xương lạc chỗ và can xương lệch ngoài khớp.

Hình minh hoạ cứng khớp khuỷu do u sụn màng hoạt dịch bên trong khớp khuỷu

Cứng khớp bên trong là do các nguyên nhân như viêm khớp, thoái hoá khớp, nhiễm trùng khớp, dị vật (chuột khớp) hoặc di lệch của bề mặt khớp.  

Các yếu tố cứng khớp do nguyên nhân bên ngoài có tiến triển như là kết quả của bệnh lý bên trong khớp được phân loại là hỗn hợp.

3. Điều trị cứng khớp khuỷu như thế nào?

Mục đích chính của điều trị cứng khuỷu cần đạt được ba yếu tố sau: không còn đau vùng khuỷu tay, duy trì được chức năng và sự ổn định của khuỷu ( điều này có nghĩa là duỗi và gấp khuỷu phải đạt được từ biên độ từ 30-130 độ trở lên, biên độ sấp ngửa đạt khoảng 100 độ.

Hình minh hoạ khớp khuỷu nhân tạo

Phục hồi chức năng bao gồm các bài tập vận động thụ động và kéo giãn và các bài tập chủ động. Khớp khuỷu có biên độ vận động và cơ sinh học phức tạp nên quá trình tập nên có sự theo dõi của Bác sĩ phục hồi chức năng chuyên sâu.

Nẹp cố định có thể được sử dụng tạm thời và thay đổi để ổn định tiến triển về tầm vận động của khuỷu.

Đối với những trường hợp hạn chế gấp và duỗi khuỷu ở mức độ ít, và sự cứng khớp được xác định là do phần mềm và trong thời gian dưới 1 năm thì có thể sử dụng phương pháp điều trị bằng nẹp động. Đây là loại nẹp gồm có các thanh lò xo có thể điều chỉnh lực trong khoảng từ một vài kg đến 10kg. Thường bắt đầu để lực giữ ở mức mà bệnh nhân không cảm thấy đau và tăng tải trọng dần của nẹp trong giới hạn không cảm thấy đau của bệnh nhân. Phương pháp này còn hạn chế ở nước ta vì thiếu nẹp chuyên dụng.

Phẫu thuật được chỉ định khi các biện pháp phục hồi chức năng không mang lại hiệu quả. Thông thường cần khoảng thời gian từ 3 đến 6 tháng để cho ổn định quá trình viêm của mô mềm.

Can thiệp phẫu thuật có thể được thực hiện thông qua phẫu thuật nội soi khớp khuỷu hoặc phẫu thuật mở nhằm gỡ dính khớp khuỷu. Nhiều trường hợp nặng nề cần thực hiện thay khớp khuỷu.

Những trường hợp nặng như dính hoàn toàn khớp khuỷu hoặc các biến dạng khớp nặng mà không giải quyết được bằng nội soi hoặc mổ mở thông thường thì cần thay khớp khuỷu phục hồi vận động khớp khuỷu một cách tốt nhất.

Lựa chọn phương pháp phẫu thuật nào phụ thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật và mức độ cứng khuỷu và phân loại về nguyên nhân cứng khuỷu.

Ths.Bs Trần Quyết – Trung tâm phẫu thuật khớp và Y học thể thao bệnh viện đa khoa Tâm Anh. Số 108 đường Hoàng như tiếp, Long biên, Hà nội, sdt 0964502886.